Trấn kinh, thông mạch với vị thuốc địa long

Theo Đông y, địa long vị mặn, tính hàn; vào can tỳ phế vị thận. Có tác dụng thanh nhiệt, bình can, trấn kinh giật, thông mạch khu phong, trừ thấp lợi thủy….

Địa long còn có tên giun đất, khưu dẫn. Vị thuốc địa long từ rất sớm đã được ứng dụng trong y học cổ truyền. Địa long có chứa Allolobophor, các axit amin có tác dụng hạ huyết áp, chống co giật, hạ sốt, trấn tĩnh… Hiện nay còn có quy trình chế biến các loại moriamin (các axit amin để tiêm truyền) từ giun đất.

Giun đất cho vị thuốc (địa long).

Giun đất cho vị thuốc (địa long).

Theo Đông y, địa long vị mặn, tính hàn; vào can tỳ phế vị thận. Có tác dụng thanh nhiệt, bình can, trấn kinh giật, thông mạch khu phong, trừ thấp lợi thủy. Dùng cho các trường hợp sốt cao kinh giật, động kinh, bồn chồn kích động, ho suyễn khó thở, bại liệt phong thấp, viêm đường tiết niệu, sốt rét cơn. Liều dùng: 5 – 10g, nấu hầm, sao rang, sắc pha hãm.

Địa long được dùng làm thuốc trong các trường hợp:

Hoạt lạc, giảm đau: Dùng cho chứng bệnh thấp nhiệt trở lạc, đau khớp, sưng nóng đỏ đau, đi tiểu vàng mà ít.

Thuốc viên hoạt lạc: xuyên ô đầu 8g, thảo ô đầu 8g, địa long khô 8g, thiên nam tinh 8g, nhũ hương 6g, một dược 6g. Tất cả nghiền thành bột, phun rượu sau đó làm hồ hoàn. Mỗi lần uống 4g, uống với nước sắc kinh giới hay nước sắc thang Tứ vật.

Thổ miết trùng 20g, toàn quy 40g, địa long khô 20g, đan sâm 40g, tế tân 8g, can khương 40g, bạch giới tử 40g, ngô công 20g, thục địa 16g, phòng kỷ 40g, ma hoàng 8g, quế chi 4g, hồng hoa 20g, sinh cam thảo 20g, quan quế 40g, ngưu tất 20g. Chữa viêm tắc tĩnh mạch.

Thanh nhiệt, cắt cơn kinh giật:

Thuốc giun đất: địa long khô 12g, liên kiều 12g, câu đằng 16g, kim ngân hoa 16g, bọ cạp 4g. Sắc uống. Hoặc lấy địa long khô 12g, chu sa 4g, làm thành hoàn. Mỗi ngày uống 4g.

Dùng ngoài: địa long tươi 250g, đường đỏ 63g. Giã nát, bọc miếng vải thưa, đắp lên rốn.

Lợi niệu thông lâm: địa lông khô, củ tỏi, lá khoai lang, liều lượng bằng nhau đều 20g. Giã nát, đắp lên rốn. Có thể uống kèm với các thuốc lợi niệu. Dùng khi thấp nhiệt làm cho tiểu tiện không lợi, hoặc bí đái do kết sỏi.

Thanh phế, cắt cơn suyễn:

Địa long khô 12g. Sắc uống. Có thể lấy giun đất nghiền thành bột, ngày uống 2 lần, mỗi lần 4g. Dùng cho chứng bệnh ho, hen suyễn, trẻ em ho gà… do hỏa nhiệt.

Địa long khô, cam thảo sống, liều lượng bằng nhau. Tất cả nghiền thành bột mịn. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 6g. Trị hen phế quản.

Trị ung độc: địa long khô, rết, tổ ong vàng, bồ công anh rễ cây chàm mèo, bọ cạp, xác rắn lột mỗi vị 63g, bạch hoa xà thiệt thảo (cây lưỡi rắn) 250g. Tất cả nghiền chung thành bột mịn, luyện với mật làm hoàn 8g. Ngày uống 2 lần (sáng, chiều), mỗi lần 1 viên, uống với nước ấm.

Kiêng kỵ: Người tỳ vị hư nhược không có thực nhiệt không dùng.

Add a Comment