Tìm hiểu về tác dụng chữa bệnh của cây dạ cẩm

Cây dạ cẩm vốn có tên là loét mồm vì nhân dân vùng Lạng Sơn, Cao Bằng dùng nó chữa loét mồm, loét lưỡi, là một cây bụi – trườn, thường cuốn vào cây khác, dài tới 1 – 2m….

Hỏi: Xin hỏi cây dạ cẩm ngoài chữa loét mồm, loét lưỡi, còn chữa được bệnh gì? 

                                                                                          (Phan  Anh Thu – Cao Bằng)

Trả lời: Cây dạ cẩm còn gọi là cây loét mồm, đất lượt, đứt lướt, chạ khẩu cắm.

Tên khoa học Oldenlandia eapitellata Kuntze.

Thuộc họ Cà phê Rubiaceae.

Ta dùng toàn cây hay chỉ dùng lá và ngọn non của nhiều loài dạ cẩm. Dạ cẩm thân tím nhiều lông và loài dạ cẩm thân xanh.

Mô tả cây

Cây dạ cẩm vốn có tên là loét mồm vì nhân dân vùng Lạng Sơn, Cao Bằng dùng nó chữa loét mồm, loét lưỡi, là một cây bụi – trườn, thường cuốn vào cây khác, dài tới 1 – 2m. Thân hình trụ, tại những đốt phình to ra. Lá đơn, nguyên, mọc đối, hình bầu dục, đầu nhọn, dài 5 – 15cm, rộng 3 – 6cm, cuống ngắn. Cụm hoa hình xim phân đôi tụ lại thành hình cầu ở đầu cành hay kẽ lá, gồm nhiều hoa hình ống nhỏ, màu trắng. Quả rất nhỏ, xếp thành hình cầu.

Cây dạ cẩm

Cây dạ cẩm

Trên thực tế hiện nay người ta dùng 4 loại cây dạ cẩm, có thể là các dạng của loài mô tả trên. Cây dạ cẩm thân tím và cây dạ cẩm thân xanh (có khi gọi là thân trắng); mỗi loại lại thấy có 2 loại: loại nhiều lông nhìn rõ và loại ít lông trông không rõ. Loại thân tím có đốt cách thưa nhau. Loại thân xanh hay thân trắng có đốt mọc sít nhau hơn.

Phân bố thu hái và chế biến

Cây dạ cẩm hiện nay mọc hoang tại nhìêu vùng rừng núi tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Hà Tây, chưa nơi nào đặt vấn đề trồng trọt.

Mùa thu hái hầu như quanh năm. Thường hái lá và ngọn non, có thể dùng toàn cây, trừ bỏ rễ (tác dụng kém hơn).

Hái về rửa sạch phơi hay sấy khô, để nơi khô ráo dùng dần hay nấu thành cao.

Công dụng và liều dùng

Bệnh viện Lạng Sơn là bệnh viện đầu tiên đưa cây dạ cẩm vào điều trị bệnh đau dạ dày từ năm 1962, xuất phát từ kinh nghiệm nhân dân dùng cây này nấu xôi cho có màu tím đẹp và điều trị viêm lưỡi. Loét lưỡi và họng. Trẻ con dùng nước vắt của lá uống hoặc ngậm. Kết quả chống loét rất tốt.

Trên lâm sàng, dạ cẩm có tác dụng làm giảm đau, trung hòa axít trong dạ dày, bớt ợ chua, vết loét se lại, bệnh nhân có cảm giác khoan khoái nhẹ nhàng.

Có thể dùng dạ cẩm dưới hình thức thuốc sắc, thuốc cao, bột hay cốm.

Dùng thuốc sắc: ngày uống từ 10 – 25g lá và ngọn khô, thêm nước vào sắc, thêm đường cho đủ ngọt, chia 2 hay 3 lần uống trong ngày.

Uống trước khi ăn hay lúc đau.

Cốm dạ cẩm: bột dạ cẩm 7kg, cam thảo 1kg, đường kính 2kg, tá dược vừa đủ dính (hồ, nếp) thêm đường và sacarin vừa đủ ngọt. Ngày uống 2 lần trướckhi ăn hoặc khi đang đau mỗi lần dùng 10 – 15g, trẻ em dưới 18 tuổi 5 -10g.

Sau đó, cao dạ cẩm đã vượt quá phạm vi Lạng Sơn và được dùng rộng rãi tại nhiều tỉnh khác. Khoa Dược liệu trường Đại học Dược khoa đã chế thành cao mềm để lâu không bị mốc mặc dù không phải thêm chất bảo quản.

Add a Comment